Ban Dị Ứng Nhiễm Trùng

Brenda L. Tesini

, MD, University of Rochester School of Medicine and Dentistry


Ban đỏ nhiễm khuẩn, nhiễm trùng cấp tính với parvovirus B19, gây ra các triệu chứng thể chất nhẹ và ban đỏ dầy hoặc phát ban ban dạng dát sẩn bắt đầu trên má và lan rộng chủ yếu ở các chi được bộc lộ. Chẩn đoán dựa trên lâm sàng, và điều trị nói chung là không cần thiết.

Bạn đang xem: Ban dị ứng nhiễm trùng


Hầu hết các virus lây nhiễm sang người đều có thể ảnh hưởng đến cả người lớn và trẻ em và được thảo luận ở những phần khác trong quyển The Manual. Các virus có tác động đặc hiệu đối với trẻ sơ sinh được thảo luận trong Nhiễm trùng ở trẻ sơ sinh Tổng quan về Nhiễm trùng sơ sinh . Chương này bao gồm các bệnh nhiễm vi-rút thường xảy ra trong thời thơ ấu (mặc dù nhiều loại cũng có thể ảnh hưởng đến người lớn).


Ban đỏ nhiễm trùng (Erythema infectiosum), thường được gọi là bệnh thứ năm, là do vi khuẩn human parvovirus B19. Nó xuất hiện chủ yếu vào mùa xuân, thường gây nên những vụ dịch địa phương vài năm một lần ở trẻ em (đặc biệt là trẻ em từ 5 đến 7 tuổi). Sự lây truyền dường như là qua các giọt hô hấp và bằng tiếp xúc trực tiếp với máu hoặc các sản phẩm máu, với tỷ lệ cao nhiễm trùng thứ phát trong sự tiếp xúc của các hộ gia đình ; nhiễm trùng có thể xảy ra mà không có triệu chứng hoặc dấu hiệu.


Parvovirus B19 gây ra sự ức chế thoáng qua đối với sự sinh hồng cầu ở mức độ nhẹ và không triệu chứng, ngoại trừ ở trẻ tiền sử bị các bệnh lý hồng cầu (ví dụ bệnh hồng cầu lưỡi liềm Tổng quan bệnh huyết sắc tố hoặc các bất thường hồng cầu khác Bệnh hồng cầu liềm

*
) (ví dụ như bệnh tăng hồng cầu hình cầu di truyền Hồng cầu hình cầu và hồng cầu hình bầu dục di truyền
*
), những trường hợp này có thể tiến triển thành cơn suy tuỷ thoáng qua. Ngoài ra, trẻ bị suy giảm miễn dịch có thể tiến triển tình trạng virus trong máu kéo dài (vài tuần đến vài tháng), dẫn đến thiếu máu trầm trọng (Suy tuỷ dòng hồng cầu đơn thuần). Bất sản hồng cầu đơn thuần


Ban đỏ nhiễm trùng có thể truyền qua nhau thai, đôi khi dẫn đến thai chết lưu hoặc thiếu máu nặng ở thai nhi gây phù nề lan rộng (phù thai nhi). Tuy nhiên, khoảng một nửa phụ nữ mang thai được miễn dịch vì đã từng mắc trước đó. Nguy cơ tử vong ở thai nhi là từ 2 đến 6% sau khi nhiễm bệnh từ mẹ, nguy cơ cao nhất là trong 6 tháng đầu của thai kỳ.


Thời kỳ ủ bệnh từ 4 đến 14 ngày. Các biểu hiện ban đầu điển hình là các triệu chứng giống như cúm không đặc hiệu (ví dụ, sốt nhẹ, chứng khó chịu nhẹ). Vài ngày sau đó, xuất hiện hồng ban sẩn cứng thành đám trên má ("vết tát má") và xuất hiện đối xứng hai bên thường ưu thế ở vùng cánh tay, chân biểu hiện nổi bật nhất trên cánh tay, chân (thường là bề mặt duỗi) và thân, thường có ít ở lòng bàn tay và lòng bàn chân. Phát ban là dạng dát sẩn, có xu hướng hội tụ; nó hình thành vùng có hình thái dạng lưới hoặc ren gồ lên nhẹ, dầy với vùng trung tâm rõ, thường ưu thế ở vùng có sự bộc lộ. Phát ban, và toàn bộ bệnh, thường kéo dài từ 5 đến 10 ngày. Tuy nhiên, phát ban có thể tái phát trong vài tuần, nặng hơn do ánh sáng mặt trời, tập thể dục, nóng, sốt hoặc căng thẳng tinh thần.


Đau khớp nhẹ và sưng (viêm khớp không ăn mòn) có thể kéo dài hoặc tái phát trong nhiều tuần cho đến vài tháng đôi khi xảy ra ở người lớn. Một vài bệnh nhân (thường là trẻ em) phát triển hội chứng ban xuất huyết dát sẩn dạng găng tay và tất (PPGSS), gây tổn thương dạng sẩn, nốt hoặc chấm xuất huyết giới hạn ở vùng bàn tay và bàn chân và thường kèm sốt hoặc tổn thương họng và/học đường sinh dục.


có thể được loại trừ bằng xét nghiệm huyết thanh học; tiền sử phơi nhiễm cũng rất hữu ích. Xét nghiệm huyết thanh học không bắt buộc đối với trẻ em khỏe mạnh; tuy nhiên, trẻ em có bệnh hemoglobin hoặc hay tình trạng suy giảm miễn dịch cần phải làm công thức máu và hồng cầu lưới để phát hiện sự ức chế sinh hồng cầu cũng như các xét nghiệm virus.


Ở trẻ em có cơn suy tuỷ thoáng qua hoặc người lớn có bệnh về khớp, sự hiện diện của kháng thể đặc hiệu IgM đối với parvovirus B19 cuối giai đoạn cấp hoặc hoặc giai đoạn đầu của thời điểm phục hồi ủng hộ mạnh cho chẩn đoán. Parvovirus B19 trong máu cũng có thể được phát hiện bằng các kỹ thuật định lượng PCR, thường được sử dụng cho những bệnh nhân có cơn suy tuỷ thoáng qua, những bệnh nhân suy giảm miễn dịch có suy tuỷ dòng hồng cầu đơn thuần và trẻ nhỏ có phù thai hoặc hoặc nhiễm trùng bẩm sinh.


Chỉ cần điều trị triệu chứng. Truyền globulin miễn dịch đường tĩnh mạch (IVIG) đã được sử dụng để hạn chế nhiễm virus máu và tăng sinh hồng cầu ở những bệnh nhân suy giảm miễn dịch với chứng suy tuỷ dòng hồng cầu đơn thuần.

Xem thêm: Một Chương Mới Bắt Đầu


Trẻ em sốt nhẹ và hơi mệt mỏi sau đó sẽ xuất hiện ban đỏ có xu hướng hội tụ, cứng trên má (hình thái "má bị tát") và ban đối xứng ưu thế ở tay, chân và thân.


Có ức chế nhẹ, thoáng qua sự sinh hồng cầu thường không triệu chứng, ngoại trừ đôi khi ở trẻ bị các bệnh về huyết sắc tố (ví dụ bệnh hồng cầu lưỡi liềm) hoặc các bất thường hồng cầu khác (ví dụ như sự gia tăng hồng cầu hình cầu di truyền) hoặc ức chế miễn dịch.


Xét nghiệm được thực hiện chủ yếu ở trẻ em có cơn suy tuỷ thoáng qua hoặc người lớn bị bệnh về khớp.


Điều trị là triệu chứng, nhưng trẻ bị suy giảm miễn dịch có thể đáp ứng với điều trị globulin miễn dịch tiêm tĩnh mạch.



shared.Bản quyềnLabel © 2022 Merck & Co., Inc., Rahway, NJ, USA và các chi nhánh của công ty. Bảo lưu mọi quyền.

Mang đến cho quý vị Merck & Co, Inc. Rahway, NJ. USA (được gọi là MSD bên ngoài Hoa Kỳ và Canada) – chuyên sử dụng khoa học tiên tiến hàng đầu để chăm sóc và cải thiện cuộc sống trên toàn thế giới. Tìm hiểu thêm về Cẩm nang MSD Manuals và cam kết của chúng tôi về Kiến thức Y khoa Toàn cầu.




*

shared.Bản quyềnLabel © 2022 Merck & Co., Inc., Rahway, NJ, USA và các chi nhánh của công ty. Bảo lưu mọi quyền.